Bạn đang ở đây

Chuyên đề 2: Đảng Cộng sản Việt Nam - người tổ chức và lãnh đạo nhân dân giành những thắng lợi vĩ đại

(15.09.2017)

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM - NGƯỜI TỔ CHỨC VÀ LÃNH ĐẠO NHÂN DÂN GIÀNH NHỮNG THẮNG LỢI VĨ ĐẠI

I- ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM RA ĐỜI CHẤM DỨT SỰ KHỦNG HOẢNG VỀ ĐƯỜNG LỐI GIẢI PHÓNG DÂN TỘC VÀ PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC Ở VIỆT NAM

1. Sự khủng hoảng về đường lối giải phóng dân tộc và phát triển đất nước đầu thế kỷ XX

Ngay từ năm 1858, khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta thì phong trào yêu nước của nhân dân Việt Nam đấu tranh để bảo vệ nền độc lập dân tộc đã bắt đầu. Từ năm 1858 đến trước năm 1930 đã nổ ra hàng trăm cuộc khởi nghĩa, phong trào đấu tranh với mục tiêu giành lại nền độc lập dân tộc. Đó là cuộc chiến đấu anh dũng của quân và dân ta dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu; khởi nghĩa của Trương Định, Thủ Khoa Huân, Nguyễn Trung Trực... Đó là các cuộc khởi nghĩa theo tiếng gọi "Cần Vương" của Phan Đình Phùng, Nguyễn Thiện Thuật, Đinh Công Tráng... Những cuộc đấu tranh vô cùng oanh liệt đó của nhân dân ta chống thực dân Pháp đều bị đàn áp tàn bạo và thất bại.

Chính sách ngu dân chia để trị, bóc lột sức lao động của nhân dân và đàn áp dã man các cuộc đấu tranh, khởi nghĩa của thực dân Pháp đầu thế kỷ XX đã làm cho xã hội Việt Nam có những biến đổi lớn; hai giai cấp mới ra đời là giai cấp công nhân và giai cấp tư sản. Nước ta từ chế độ phong kiến chuyển sang chế độ thuộc địa nửa phong kiến. Xã hội Việt Nam tồn tại hai mâu thuẫn cơ bản: mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc ta với thực dân Pháp xâm lược và mâu thuẫn giữa nhân dân ta, chủ yếu là nông dân, với giai cấp địa chủ phong kiến tay sai.

Đồng thời, thực dân Pháp từng bước tiến hành khai thác triệt để tài nguyên, khoáng sản của Việt Nam. Các cuộc khai thác tài nguyên, khoáng sản và tạo dựng những điều kiện phục vụ sự khai thác đó cũng như sự đô hộ của thực dân Pháp ở Việt Nam đã dẫn đến sự ra đời và ngày càng trưởng thành của giai cấp công nhân Việt Nam. Lớp công nhân đầu tiên ra đời vào cuối thế kỷ XIX, khi thực dân Pháp xây dựng một số cơ sở công nghiệp, đồn điền. Sự ra đời của giai cấp công nhân đã làm xã hội Việt Nam xuất hiện thêm mâu thuẫn mới giữa giai cấp công nhân với giai cấp tư sản, chủ yếu là tư sản Pháp; đồng thời cũng làm tăng mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp.

Ngay từ khi mới ra đời, giai cấp công nhân Việt Nam đã mang trong mình chủ nghĩa yêu nước truyền thống và đứng lên đấu tranh chống lại sự bóc lột dã man của thực dân Pháp. Phong trào đấu tranh của công nhân, chủ yếu dưới hình thức đình công, bãi công đã nổ ra ở nhiều nơi, lúc đầu chủ yếu mang tính tự phát và cuối cùng đều thất bại.

Mặc dù các cuộc đấu tranh của nhân dân đều bị đàn áp dã man nhưng các phong trào yêu nước vẫn tiếp tục phát triển mạnh. Đã xuất hiện các phong trào yêu nước theo chủ trương mới và có xu hướng tư sản như các phong trào Đông Du, Đông Kinh nghĩa thục, Duy Tân, các cuộc khởi nghĩa của tiểu tư sản, trí thức trong Việt Nam Quốc dân Đảng do Nguyễn Thái Học lãnh đạo... Tuy nhiên, các phong trào đó đều không đi đến thành công. Nguyên nhân cơ bản là do các phong trào không tìm được đường lối cứu nước, giải phóng dân tộc và con đường phát triển đúng đắn, chưa phản ánh đúng nhu cầu phát triển của xã hội Việt Nam. Điều cốt lõi nhất là các phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX chưa tìm được và chưa có khả năng tập hợp lực lượng đủ sức đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược. Phong trào nông dân không giải quyết được mâu thuẫn giữa địa chủ, phong kiến và nông dân, nhân dân lao động nói chung. Phong trào yêu nước muốn phát triển đất nước theo chiều hướng tư sản và tiểu tư sản không giải quyết được mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân đang phát triển ngày càng mạnh với giai cấp tư sản mà chủ yếu là tư sản Pháp; do đó, cũng không giải quyết được triệt để mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp, không tranh thủ được sức mạnh của phong trào cách mạng thế giới đang dâng lên mạnh mẽ... Phong trào yêu nước của nhân dân Việt Nam như không có đường ra.

2. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam

Trong hoàn cảnh Việt Nam đang rơi vào khủng hoảng về đường lối giải phóng dân tộc và phát triển đất nước, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã ra đi tìm con đường cứu nước mới. Việc ra nước ngoài tìm đường cứu nước mới của Nguyễn Ái Quốc là đi từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa cộng sản, trở thành chiến sĩ giải phóng dân tộc và chiến sĩ cộng sản quốc tế. Người đã hoạt động tích cực trong phong trào giải phóng dân tộc và phong trào cộng sản, phong trào công nhân quốc tế, nghiên cứu và truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam.

Chủ nghĩa Mác - Lênin qua các tài liệu tuyên truyền của Nguyễn Ái Quốc được giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam trong nước đón nhận; lôi cuốn những người yêu nước Việt Nam đi theo con đường cách mạng vô sản, làm dấy lên các phong trào đấu tranh sôi nổi khắp cả nước, trong đó có giai cấp công nhân. Sự phát triển của phong trào công nhân và của các tầng lớp nhân dân đòi hỏi phải có đảng chính trị lãnh đạo Vì vậy, đến cuối những năm 20 của thế kỷ XX, các tổ chức cộng sản lần lượt được thành lập.

Ngày 17-6-1929, Đông Dương Cộng sản Đảng được thành lập ở Bắc Kỳ.

Mùa thu năm 1929, An Nam Cộng sản Đảng được thành lập ở Nam Kỳ.

Ngày 1-1-1930, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn được thành lập ở Trung Kỳ.

Việc Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào trong nước và sự ra đời của ba tổ chức cộng sản ở Việt Nam phản ánh xu thế tất yếu và bước phát triển nhảy vọt của phong trào đấu tranh cách mạng ở Việt Nam.

Tuy nhiên, sự tồn tại của ba tổ chức cộng sản hoạt động biệt lập trong một quốc gia là nguy cơ dẫn đến chia rẽ trong phong trào công nhân, phong trào cách mạng giải phóng dân tộc. Yêu cầu bức thiết lúc đó là thống nhất các tổ chức cộng sản thành một đảng cộng sản duy nhất để lãnh đạo phong trào cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam. Thay mặt cho Quốc tế Cộng sản, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã triệu tập Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

Từ ngày 6-1 đến ngày 7-2-1930, Hội nghị hợp nhất ba tổ chức cộng sản họp tại bán đảo Cửu Long (Hương Cảng, Trung Quốc) dưới sự chủ trì của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Hội nghị nhất trí thành lập một đảng thống nhất, lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam1; thông qua Chánh cương vắn tắt của Đảng, Sách lược vắn tắt của Đảng, Chương trình tóm tắt của Đảng, Điều lệ vắn tắt của Đảng, Điều lệ tóm tắt của các hội quần chúng.

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời phản ánh sự kết hợp giữa cuộc đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc ở nước ta trong những năm đầu thế kỷ XX. Đó là một mốc lớn, bước ngoặt trọng đại trong lịch sử cách mạng Việt Nam, chấm dứt cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước. Sự thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam với Cương lĩnh, đường lối cách mạng đúng đắn chứng tỏ giai cấp công nhân Việt Nam đã trưởng thành, đủ sức lãnh đạo cách mạng.

Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam gắn liền với tên tuổi của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng ta.

Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chấm dứt cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước vì:

- Đường lối cách mạng vô sản của Đảng Cộng sản Việt Nam đáp ứng khát vọng ngàn đời của nhân dân lao động, trước hết là giai cấp công nhân, nông dân và những người nghèo khổ về một xã hội tốt đẹp, trong đó mọi người đều có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, công bằng, thương yêu, đùm bọc lẫn nhau, không phân biệt giàu nghèo, sang hèn... Đó chính là lý tưởng cộng sản, lý tưởng xã hội chủ nghĩa. Do đó, Đảng Cộng sản tập hợp được đông đảo các tầng lớp nhân dân tin theo, trước hết là nhân dân lao động, đặc biệt là công nhân và nông dân.

- Cách mạng vô sản cho phép giải quyết được những mâu thuẫn cơ bản của xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX giữa nông dân với địa chủ phong kiến (kế thừa tư tưởng tinh hoa của cách mạng tư sản), giữa giai cấp công nhân ngày càng lớn mạnh với giai cấp tư sản, đặc biệt là tư sản thực dân Pháp (nội dung cơ bản của cách mạng xã hội chủ nghĩa), do đó nó đồng thời giải quyết được mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp và tay sai.

- Con đường cách mạng vô sản đồng thời cho phép Đảng Cộng sản Việt Nam tranh thủ được sự giúp đỡ của cách mạng thế giới trên tinh thần quốc tế vô sản đang phát triển mạnh mẽ lúc đó.

Trên cơ sở những yếu tố trên Đảng Cộng sản Việt Nam có thể tập hợp được một lực lượng cách mạng hùng hậu cho phép giải phóng đất nước khỏi sự đô hộ của thực dân Pháp đồng thời đưa đất nước phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa, mang lại cơm no, áo ấm cho nhân dân.

Đảng Cộng sản Việt Nam hoàn toàn có thể thực hiện được mục tiêu, lý tưởng đó do được trang bị bởi học thuyết Mác - Lênin - cơ sở lý luận và phương pháp luận biện chứng chỉ dẫn cho hành động cách mạng của Đảng.

II. SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TRONG CÁC GIAI ĐOẠN CÁCH MẠNG

1. Đảng lãnh đạo nhân dân giành chính quyền và bảo vệ nền độc lập, tự do của dân tộc

a) Đảng lãnh đạo cuộc đấu tranh giành chính quyền

Ngay khi vừa mới ra đời, với đường lối cứu nước đúng đắn, Đảng ta đã quy tụ, đoàn kết chung quanh mình tất cả các giai cấp và các tầng lớp nhân dân yêu nước, xây dựng nên lực lượng cách mạng to lớn và rộng khắp, đấu tranh chống thực dân Pháp và bọn phong kiến tay sai vì sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Qua 15 năm lãnh đạo cách mạng, trải qua các cuộc đấu tranh gian khổ, hy sinh, với ba cao trào cách mạng lớn (1930-1931, 1936-1939, 1939-1945), khi thời cơ đến, Đảng đã phát động cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công đã giành lại nền độc lập của dân tộc sau hơn 80 năm bị đô hộ. Ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam châu Á. Dân tộc ta bước sang kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập, tự do, dân chủ nhân dân, tiến lên chủ nghĩa xã hội.

b) Đảng lãnh đạo cuộc đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng (1945-1946)

Ngay khi vừa mới ra đời, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã phải đối mặt với ba thứ giặc: giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm. Vận mệnh của đất nước trước tình thế "ngàn cân treo sợi tóc". Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã kịp thời đề ra những chủ trương và quyết sách đúng đắn, toàn diện trên tất cả các mặt chính trị, kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại. Đối với các thế lực thù địch, Đảng đã thực hiện sách lược mềm dẻo, lợi dụng mâu thuẫn, phân hóa chúng, dành thời gian để củng cố lực lượng. Với đường lối chính trị sáng suốt, Đảng đã động viên được sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc, củng cố, giữ vững chính quyền, đưa cách mạng vượt qua tình thế hiểm nghèo, chuẩn bị mọi mặt cho cuộc kháng chiến lâu dài chống thực dân Pháp.

c) Đảng lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1946-1954)

Bất chấp mong muốn độc lập và hòa bình của Chính phủ và nhân dân ta, mặc dù chúng ta đã nhân nhượng, thực dân Pháp vẫn ngày càng lấn tới vì chúng có dã tâm cướp nước ta một lần nữa. Dân tộc ta buộc phải chiến đấu để bảo vệ nền độc lập, tự do của dân tộc.

Đêm ngày 19-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân cả nước đồng loạt đứng lên với tinh thần "thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ"2. Với đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, dựa vào sức mình là chính; vừa kháng chiến, vừa kiến quốc, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta vượt qua mọi khó khăn, giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược bằng chiến thắng tiêu diệt toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ (7-5-1954).

Chiến thắng Điện Biên Phủ được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một Bạch Đằng, một Chi Lăng hay một Đống Đa của thế kỷ XX; góp phần phá vỡ hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa thực dân cũ, dẫn tới sự sụp đổ hoàn toàn của chủ nghĩa thực dân.

d) Đảng lãnh đạo nhân dân ta tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược (1954-1975)

Với thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, miền Bắc được giải phóng, thực hiện quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội. Ở miền Nam, đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai đã xóa bỏ Hiệp định Giơnevơ hòng chia cắt lâu dài đất nước ta. Đất nước tạm thời bị chia làm hai miền với hai chế độ chính trị - xã hội đối lập nhau. Đảng xác định con đường phát triển tất yếu của cách mạng Việt Nam là tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược: Một là, tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, xây dựng miền Bắc thành căn cứ địa vững mạnh của cách mạng cả nước.

Hai là tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, giải phóng miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà. Mỗi miền thực hiện một nhiệm vụ chiến lược khác nhau nhưng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc giữ vai trò quyết định nhất đối với toàn bộ sự phát triển của cách mạng Việt Nam; cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam giữ vị trí quan trọng, có tác dụng trực tiếp đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta tiến hành đồng thời hai cuộc cách mạng: cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam.

Từ năm 1965, khi đế quốc Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc, cả nước ta tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Với tinh thần "Không có gì quý hơn độc lập tự do!”, "hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta thì ta còn phải chiến đấu quét sạch nó đi” , "đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào", dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, hy sinh, lần lượt đánh thắng các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ ở miền Nam và chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân ở miền Bắc. Bằng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 và thắng lợi của Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, nhân dân ta đã kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, mở ra thời kỳ mới - thời kỳ độc lập, thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Thắng lợi của cuộc đấu tranh giành và bảo vệ nền độc lập dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng đã làm sáng tỏ một chân lý: Trong điều kiện thế giới ngày nay, một dân tộc dù nhỏ bé, dưới sự lãnh đạo của chính đảng Mác -Lênin, đoàn kết đứng lên, kiên quyết đấu tranh để giành độc lập và dân chủ, có thể chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược.

2. Đảng lãnh đạo nhân dân ta xây dựng xã hội mới (từ năm 1975 đến nay)

Bước vào thời kỳ cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội, cách mạng Việt Nam có những thuận lợi cơ bản, nhưng cũng gặp không ít khó khăn. Khó khăn lớn nhất là nền kinh tế sản xuất nhỏ, năng suất lao động thấp, hậu quả nặng nề do chiến tranh để lại. Trong khi đó, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động bên ngoài bao vây, cấm vận .., luôn tìm mọi cách phá hoại cách mạng nước ta. Bắt đầu từ cuối những năm 70 của thế kỷ XX, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế trải qua nhiều diễn biến phức tạp, đặc biệt là sau sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu. Tình hình đó đã tác động, ảnh hưởng lớn đến sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Trong 10 năm đầu (1975 - 1985), cách mạng Việt Nam đã vượt qua những khó khăn, trở ngại, thu được những thành tựu quan trọng. Chúng ta đã nhanh chóng hoàn thành việc thống nhất đất nước về mọi mặt, đánh thắng các cuộc chiến tranh biên giới, bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Trên các lĩnh vực kinh tế, văn hoá - xã hội, nhân dân ta đã có những cố gắng to lớn để khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh, bước đầu bình ổn sản xuất và đời sống nhân dân.

Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, những thành tựu về kinh tế - xã hội đạt được còn thấp so với yêu cầu, kế hoạch và công sức bỏ ra; nền kinh tế mất cân đối nghiêm trọng, tỷ lệ lạm phát cao quá mức, đất nước lâm vào khủng hoảng kinh tế - xã hội.

Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (tháng 12-1986) đã nghiêm khắc kiểm điểm, khẳng định những mặt làm được, phân tích rõ những sai lầm, khuyết điểm, đặc biệt là khuyết điểm chủ quan, duy ý chí trong lãnh đạo kinh tế. Đại hội đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện, mở ra bước ngoặt trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Trong các nhiệm kỳ Đại hội VII (1991-1996), Đại hội VIII (1996-2001), Đại hội IX (2001-2006), Đại hội X (2006-2011), Đảng đã không ngừng tổng kết thực tiễn để phát triển, hoàn thiện đường lối đổi mới và lãnh đạo nhân dân ta phát huy tinh thần sáng tạo, thực hiện đổi mới toàn diện đất nước. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng (tháng 1-2011) đã khẳng định: "thắng lợi của công cuộc đổi mới, tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, tiếp tục đưa đất nước từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội với nhận thức và tư duy mới đúng đắn, phù hợp thực tiễn Việt Nam...; đất nước ta đã ra khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, có quan hệ quốc tế rộng rãi, có vị thế ngày càng quan trọng trong khu vực và trên thế giới"3.

Về mặt thực tiễn, đường lối đổi mới đã đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, bước vào thời kỳ phát triển tương đối ổn định, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; kinh tế tăng trưởng khá nhanh, thoát khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển, bước vào nhóm nước đang phát triển có thu nhập trung bình; kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ngày càng hoàn thiện; đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt; hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường; chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng và an ninh được giữ vững; vị thế nước ta trên trường quốc tế không ngừng nâng cao; sức mạnh tổng hợp của quốc gia đã tăng lên rất nhiều.

Về mặt lý luận, hệ thống quan điểm lý luận về công cuộc đổi mới, về xã hội xã hội chủ nghĩa và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam đã hình thành trên những nét cơ bản.

Những thành tựu đó chứng tỏ đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với thực tiễn Việt Nam.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng nước ta, Đảng cũng có mặt, lĩnh vực còn yếu kém, có lúc phạm sai lầm, khuyết điểm. Điều quan trọng là Đảng sớm phát hiện ra những yếu kém, sai lầm, khuyết điểm của mình, đề ra những biện pháp sữa chữa đúng đắn, kịp thời. Đảng công khai tự phê bình, nhận khuyết điểm trước nhân dân, quyết tâm sửa chữa và sửa chữa có kết quả. Vì vậy, Đảng ta được nhân dân tin cậy, thừa nhận là người lãnh đạo chân chính, duy nhất, là đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam.

III- ĐƯỜNG LỐI ĐÚNG ĐẮN CỦA ĐẢNG - NHÂN TỐ HÀNG ĐẦU QUYẾT ĐỊNH THẮNG LỢI CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM

1. Đường lối đúng đắn của Đảng trong sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc

Mục đích của cách mạng giải phóng dân tộc là đánh đổ ách thống trị của chủ nghĩa thực dân, giành độc lập dân tộc và thiết lập chính quyền của nhân dân. Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân giành được thắng lợi này chính nhờ đường lối đúng đắn, phù hợp với yêu cầu của lịch sử.

Trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, khi giai cấp tư sản vừa bóc lột giai cấp công nhân ở chính quốc, vừa bóc lột nhân dân thuộc địa, cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi triệt để phải đi theo con đường cách mạng vô sản. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản"4. Đảng của giai cấp vô sản ở các nước thuộc địa nắm lấy và giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, gắn phong trào giải phóng dân tộc trong nước với phong trào cách mạng thế giới.

Đảng Cộng sản Việt Nam là người duy nhất có thể thực hiện được nhiệm vụ đó vì Đảng tập hợp được đông đảo quần chúng nhân dân đi theo mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Cách mệnh trước hết phải có cái gì? Trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy"5.

Vì vậy, có thể nói đường lối cách mạng giải phóng dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam đáp ứng yêu cầu của lịch sử Việt Nam, của toàn dân tộc Việt Nam, của sự nghiệp giải phóng dân tộc. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 trước hết là thắng lợi của đường lối cách mạng giải phóng dân tộc đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam.

2. Đường lối đúng đắn của Đảng trong sự nghiệp bảo vệ độc lập dân tộc và xây dựng, phát triển đất nước

V.I.Lênin khẳng định: Giành chính quyền đã khó, giữ chính quyền còn khó hơn. Sau thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc, Đảng Cộng sản là lực lượng duy nhất có thể tập hợp được đông đảo quần chúng nhân dân để bảo vệ thành quả cách mạng. Có được khả năng đó là do Đảng gồm những người tiên tiến nhất của giai cấp và dân tộc, trung thành, kiên định với lợi ích của dân tộc, luôn đi đầu, sẵn sàng hy sinh vì nền độc lập dân tộc nên được nhân dân tin tưởng và đi theo.

Trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam có khả năng to lớn để lãnh đạo nhân dân xây dựng xã hội mới vì con đường cách mạng do Đảng lãnh đạo phù hợp với thời đại và quy luật phát triển của xã hội. Đảng không có mục đích tự thân. Ngoài lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động, lợi ích của toàn dân tộc Việt Nam, lợi ích của nhân dân tiến bộ trên thế giới, Đảng không có lợi ích nào khác.

Lịch sử cách mạng Việt Nam cận đại, hiện đại đã chứng tỏ không có một tổ chức chính trị nào có thể thay thế được vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Thực tế trong quá trình đấu tranh giành và giữ chính quyền, có những lực lượng chính trị tham gia cùng với Đảng, nhưng khi cách mạng gặp khó khăn, họ đều chùn bước. Chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam trung thành với lợi ích của giai cấp vô sản, của dân tộc, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì lợi ích đó. Biết bao đảng viên và quần chúng của Đảng đã suốt đời phấn đấu, hy sinh vì lý tưởng cao cả, vì độc lập, tự do của Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội. Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

IV. NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM LỚN CỦA ĐẢNG TRONG QUÁ TRÌNH LÃNH ĐẠO CÁCH MẠNG VIỆT NAM

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 1-2011) trên cơ sở tổng kết thực tiễn hơn 80 năm cách mạng nước ta đã nêu ra năm bài học kinh nghiệm lớn của cách mạng Việt Nam.

Một là, nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội - ngọn cờ vinh quang mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trao lại cho thế hệ hôm nay và các thế hệ mai sau.

Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là hai mặt, hai mục tiêu, hai nhiệm vụ chiến lược xuyên suốt của cách mạng Việt Nam, có mối liên hệ hữu cơ với nhau: Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc.

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn kiên định hai mục tiêu chiến lược này và xử lý đúng đắn mối quan hệ này. Nhờ đó, cách mạng Việt Nam giành được thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Hai là, sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, nhân dân là người sáng tạo lịch sử. Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng minh rằng, chính nhân dân là người làm nên những thắng lợi lịch sử.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng hơn 80 năm qua, toàn bộ hoạt động của Đảng đều xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Thực tiễn cho thấy, sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó mật thiết với nhân dân.

Quan liêu, tham nhũng là biểu hiện của sự xa dân, làm mất niềm tin của nhân dân, Đảng ta khẳng định: "Quan liêu, tham nhũng, xa rời nhân dân sẽ dẫn đến những tổn thất khôn lường đối với vận mệnh của đất nước, của chế độ xã hội chủ nghĩa và của Đảng"6.

Ba là, không ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết: đoàn kết toàn Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kêu dân tộc, đoàn kết quốc tế.

Đoàn kết giai cấp là một tư tưởng lớn của chủ nghĩa Mác - Lênin với những khẩu hiệu như: “Vô sản tất cả các nước, đoàn kết lại!” "Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức, đoàn kết lại!”.

Đoàn kết là truyền thống quý báu và là nguồn sức mạnh to lớn của cách mạng Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổng kết: "Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết, Thành công, thành công, đại thành công”7.

Từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc luôn được Đảng ghi trong chủ đề Đại hội.

Bốn là, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế.

Trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng cần kiên định ý chí độc lập tự chủ và nêu cao tinh thần hợp tác quốc tế, phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ ngoại lực, kết hợp yếu tố truyền thống với yếu tố hiện đại. Đây chính là truyền thống quý báu của Đảng ta.

Từ khi thành lập đến nay, mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam đều gắn với tinh thần độc lập, sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng thời, phát huy tối đa sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế, sức mạnh của thời đại.

Năm là, sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác vì Đảng không có lợi ích nào khác ngoài việc phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân.

Đường lối của Đảng chỉ đúng đắn khi Đảng nắm vững, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, không ngừng làm giàu trí tuệ, nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực tổ chức để đủ sức giải quyết các vấn đề do thực tiễn cách mạng đặt ra; mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan.

 

Sai lầm về đường lối có thể dẫn đến những hậu quả khôn lường. Vì vậy, Đảng phải luôn luôn phòng và chống những nguy cơ lớn: sai lầm về đường lối, bệnh quan liêu và sự thoái hóa, biến chất của cán bộ, đảng viên.

Lượt xem:

Viết bình luận

Dự báo thời tiết

Liên kết web

Hỗ trợ nông dân