Bạn đang ở đây

HOÀNG HOA THÁM - ANH HÙNG YÊN THẾ

(04.10.2017)

"Hỡi người dự lễ hôm nay
Cùng nhau ta nắm chặt tay thề nguyền
Thề kế tiếp trung hiền, tiên liệt
Đem máu xương trừ diệt xâm lăng
Cùng nhau hô tiếng to vang
Việt Nam độc lập vững vàng muôn năm"

Đó là những vần thơ trong bài “Thế đánh giặc” của vị tướng quân chân chính, tài ba Hoàng Hoa Thám. Ông sinh năm 1845, mất năm 1913, tên thật là Trương Văn Nghĩa tại làng Dị Chế, huyện Tiên Lữ (nay thuộc xã Dị Chế, huyện Tiên Lữ, Hưng Yên).

Phong trào khởi nghĩa của nông dân Yên Thế luôn giữ một vị trí đặc biệt quan trọng trong sự phát triển không ngừng đi lên của phong trào yêu nước cách mạng của nhân dân ta cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, khẳng định truyền thống yêu nước của dân tộc.

Sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống yêu nước, trước thế nước bị đô hộ và đàn áp, ông tham gia quân khởi nghĩa dưới sự chỉ huy của Đề Nẫm. Khi Đề Nẫm hy sinh ông rút về Phồn Sương, Yên Thế lập căn cứ, đổi họ Hoàng tên Thám, đương thời gọi là Hoàng Hoa Thám hay Đề Thám. Từ năm 1887- 1913, Đề Thám là lãnh tụ của nghĩa quân Yên Thế với chiến khu và địa bàn hoạt động quanh vùng Bắc Giang - Thái Nguyên - Hưng Hóa. Ông có tài dùng binh, thu phục nhiều tướng giỏi mưu lược khiến cho giặc ngày đêm lo sợ.

Giặc Pháp nhiều lần phối hợp với Tổng đốc tay sai pháp là Lê Hoan một mặt đàn áp, mặt khác dùng chiêu hàng nhưng cũng không khuất phục được ông. Đến năm 1894, quân Pháp chịu điều đình giảng hòa và cắt cho ông 6 tổng gồm 22 làng ở Phồn Xương. Một mặt, ông giả vờ giảng hòa, mặt khác ông cho lập đồn điền, xây dựng cơ sở, liên hệ với các văn nhân yêu nước: Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Phạm Văn Ngôn  để mở rộng địa bàn hoạt động. Dưới sự chỉ huy của Đề Thám, nghĩa quân Yên Thế trong nhiều năm đã thực sự vươn lên thành một lực lượng kháng chiến uy lực, gây nên những tổn thất nặng nề cho thực dân Pháp và tay sai.  Trước tình thế đó, kẻ thù đã phải tập trung rất nhiều tinh binh và sử dụng vô số những mưu ma chước quỷ nhằm dập tắt ngọn lửa yêu nước của nghĩa quân. Bản thân Đề Thám cũng trở thành đối tượng tiễu trừ hàng đầu của thực dân Pháp.

Trong bối cảnh cực kỳ bất lợi của thời vận lịch sử, nghĩa quân Yên Thế đã dần dà bị lâm vào thế kẹt. Đã không chỉ một lần Đề Thám gần như chuẩn bị sa chân vào những cái bẫy tinh vi mà kẻ thù đã giăng mắc. Có lúc tưởng như vận mệnh của ông cũng đã bị kết liễu bởi những trò phản bội từ chính những kẻ từng là thân cận nhất. Thế nhưng, trong nhiều năm liền, “Hùm thiêng Yên Thế” bằng những chiến thuật khôn khéo và quả cảm đã vượt qua được mọi nguy nan. Chỉ tới thập niên đầu tiên của thế kỷ XX, lực lượng của Đề Thám mới suy yếu. Đầu năm 1909, vào đúng ngày mùng 8 Tết Kỷ Dậu (29/1) viên thống sứ Bắc Kỳ đã huy động 15.000 quân chính quy và lính khố xanh cùng 400 lính dõng do Đại tá Bataille và viên đại thần khét tiếng Lê Hoan chỉ huy tổng tấn công vào căn cứ Yên Thế.

“Chỉ vì việc chiến tranh phát triển, thì nông nghiệp bỏ bê, lương thực bị cạn, đạn dược hết dần, các kiện tướng ở dưới trướng lần lượt bị tử trận. Thế của tướng quân ngày càng bị cô lập. Thủ hạ chỉ còn lại vài trăm người, thì dù sức có bạt được núi, khí thế có ngất trời mà thời vận không lợi, thì ngựa ô cũng đành phải chùn bước. Đã đến lúc tướng quân không thể không vào ẩn non sâu như thế của một con hổ nghỉ ngơi…”.Thế giặc hơn hẳn buộc Đề Thám phải vừa phản công, vừa rút lui. Phan Bội Châu đã mô tả:

Tới cuối năm 1909, sau khi lực lượng nghĩa quân gần như bị tan rã hoàn toàn, Đề Thám phải đi ẩn náu trong những khu vực hiểm trở của núi rừng Yên Thế cùng hai thủ hạ tâm phúc. Hoàng Hoa Thám đã phải vất vả mai danh ẩn tích để tránh khỏi sự truy sát của kẻ thù. Tuy nhiên, vòng vây của giặc ngày một thít chặt.
Ngày 13/9/1913, ông bị thuộc hạ của Lương Tam Kỳ phản bội ám sát. Phan Bội Châu có thơ điếu ông, tôn ông là Chân tướng quân (Tướng quân chân chính) Vợ ba của ông – bà Đặng Thị Nhu cũng rất nổi tiếng, đã giúp ông nhiều trong vùng đồn điền và trong trận mạc. Trong dân gian còn lưu truyền nhiều giai thoại kể về tài đánh giặc của vợ chồng ông.

“ Khi mặt đất phủ bóng tối đã lộ ra dấu tích của ông và đồn Hữu Nhuế, tôi cảm thấy mình bay bổng cùng huyền thoại về người anh hùng và chắc chắn sẽ sống mãi với các thế hệ người Việt Nam”Chính vì sự ngưỡng mộ với người anh hùng Yên Thế, Đơrao Sacbone - một sĩ quan Pháp đã bỏ nhiều năm đi tìm mộ Đề Thám và năm 1944, ông đã tìm thấy ngôi mộ nằm tại Đồi Ngô thuộc cánh đồng Hữu Phúc. Với cảm xúc kính trọng, ông viết:

Cả gia đình Đề Thám hy sinh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc một cách anh hùng và cảm động. Người con cuối cùng của ông là bà Hoàng Thị Thế bị bắt về Pháp từ khi 6-7 tuổi, cuối đời bà về nước và qua đời. Theo di chúc, bà được an táng tại Phồn Xương, nơi người cha nhiều năm tháng xây dựng căn cứ chống giặc. Dấu tích thành Phồn Xương nay vẫn còn, tại đây có tượng đài, nhà lưu niệm về Đề Thám. 
Cuộc khởi nghĩa đã lùi vào lịch sử hơn một thế kỷ qua nhưng những người con Việt Nam vẫn không quên được vị thủ lĩnh tài ba "Hùm thiêng Yên Thế". Về  Hưng Yên hôm nay để tưởng nhớ tới người con trung hiếu của quê hương. Nhà thờ Hoàng Hoa Thám đã được xây dựng trên mảnh đất Dị Chế, Tiên Lữ như một địa chỉ giáo dục lòng yêu nước cho các thế hệ mai sau.

 

Theo hungyentourism.com.vn

Lượt xem: 4

Viết bình luận

Dự báo thời tiết

Liên kết web

Hỗ trợ nông dân